Nghiên cứu thực nghiệm trong kinh tế phát triển lên một cột mốc mới kể từ năm 1990, nhờ công của 3 nhà khoa học đạt Nobel năm nay.

Cuộc cách mạng về độ tin cậy trong nghiên cứu đã làm thay đổi nền kinh tế thế giới kể từ những năm 1990. Trước đó, nghiên cứu lý thuyết đóng vai trò thống trị, còn công việc thực nghiệm chỉ là phụ. "Hầu như không ai xem xét việc phân tích dữ liệu một cách nghiêm túc", Edward Leamer của Đại học California, Los Angeles, tuyên bố trong một bài báo xuất bản năm 1983.

Tuy nhiên, chỉ trong vòng một thập kỷ sau đó, các công trình mới và sáng tạo đã dẫn đến nhiều thay đổi, đến mức phần lớn các nghiên cứu đáng chú ý ngày nay là thực nghiệm. Vì đã giúp thúc đẩy quá trình chuyển đổi này, David Card của Đại học California Berkeley đã chia sẻ giải thưởng Nobel Kinh tế 2021 cùng với Joshua Angrist của Viện Công nghệ Massachusetts và Guido Imbens của Đại học Stanford, hôm 11/10.

Trong thế giới thực đầy phức tạp, việc đúc kết một mối quan hệ nguyên nhân và hệ quả (quan hệ nhân quả) có thể là một thách thức đối với các nhà kinh tế. Ví dụ, kết luận việc tăng lương tối thiểu ảnh hưởng thế nào đến việc làm rất phức tạp. Bởi thực tế còn những yếu tố tác động khác, có thể đã góp phần tạo ra những thay đổi trong cả chính sách và việc làm.

Trong các lĩnh vực khoa học khác, các nhà nghiên cứu thiết lập quan hệ nhân quả bằng cách thiết kế các thí nghiệm trong đó các đối tượng được phân ngẫu nhiên vào các nhóm khác nhau. Chỉ một trong số họ nhận được một "phương pháp điều trị" cụ thể, để có thể thấy rõ tác dụng của chúng.

Nhiều nhà kinh tế học cũng đang sử dụng các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng như vậy. Giải Nobel Kinh tế 2019 cũng đã khen thưởng những nỗ lực đó. Nhưng nhiều câu hỏi vẫn không thể được nghiên cứu theo cách này vì lý do chính trị, hậu cần hoặc đạo đức.

Phác hoạ chân dung 3 nhà khoa học đạt Nobel Kinh tế 2021. Nguồn: Nobel Prize Outreach

Phác hoạ chân dung 3 nhà khoa học đạt Nobel Kinh tế 2021. Nguồn: Nobel Prize Outreach

Riêng 3 nhà khoa học đạt Nobel Kinh tế năm nay đã vượt qua những trở ngại như vậy, bằng cách sử dụng "thí nghiệm tự nhiên". Có nghĩa là, một số hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử khách quan đã tạo ra tác động tương tự như một cuộc thử nghiệm có chủ đích.

Trong một báo cáo khoa học mang tính bước ngoặt được xuất bản năm 1994, ông David Card và Alan Krueger đã nghiên cứu tác động của việc tăng lương tối thiểu ở New Jersey (Mỹ) bằng cách so sánh sự thay đổi trong việc làm ở đó với bang Pennsylvania láng giềng, nơi mức lương không thay đổi.

Mặc dù lý thuyết dự đoán rằng việc tăng lương tối thiểu sẽ kéo theo sự sụt giảm mạnh về việc làm. Nhưng đáng chú ý, hiệu ứng như vậy dường như không được duy trì trong thực tế. Nghiên cứu đã truyền cảm hứng cho các công việc thực nghiệm sâu hơn và truyền nguồn năng lượng mới vào suy nghĩ về thị trường lao động. Krueger, người đã qua đời vào năm 2019, có lẽ đã chia sẻ giải thưởng nếu ông ấy còn sống.

Việc sử dụng các thí nghiệm tự nhiên như vậy nhanh chóng lan rộng. Card đã phân tích một tình huống độc đáo khác. Đó là quyết định của Fidel Castro vào năm 1980 cho phép di cư ra khỏi Cuba, để xem xét tác động của nhập cư đối với thị trường lao động địa phương.

Khoảng một nửa trong số 125.000 người Cuba đến Mỹ đã định cư ở Miami. Card so sánh tác động ở thành phố này với bốn nơi khác có nhiều khía cạnh tương tự, nhưng không có dòng người di cư. Kết quả, ông nhận thấy cả tiền lương và việc làm của người lao động bản địa đều không bị ảnh hưởng.

Trong khi đó, ông Joshua Angrist cùng với Krueger, đã sử dụng một kỹ thuật tương tự để xem xét tác động của giáo dục đối với kết quả thị trường lao động. Theo đó, những sinh viên có khuynh hướng học vấn cao hơn có thể vừa dành nhiều thời gian ở trường vừa kiếm được nhiều tiền hơn trong công việc.

Để xác định mối quan hệ nhân quả, các nhà nghiên cứu đã sử dụng những đặc điểm của hệ thống giáo dục của Mỹ. Mặc dù luật pháp thường cho phép học sinh nghỉ học khi đủ 16 tuổi, nhưng những ai sinh cùng năm đều bắt đầu đi học vào cùng một ngày, bất kể sinh nhật của chúng.

Do đó, những người sinh vào tháng Giêng, trung bình được đi học nhiều hơn những người sinh vào tháng Mười Hai. Và các nhà nghiên cứu nhận thấy, những người đó cũng có xu hướng kiếm được nhiều tiền hơn. Vì tháng sinh của học sinh có thể được giả định là ngẫu nhiên, họ kết luận rằng việc học nhiều hơn giúp thu nhập cao hơn.

Nghiên cứu về thời gian đi học cho thấy rằng học thêm một năm làm tăng thu nhập sau đó lên 9%. Một tác động như vậy dường như quá lớn đối với nhiều nhà kinh tế học. Nhưng điều đó phản ánh sự khác biệt trong định nghĩa, ông Angrist rút ra kết luận như vậy khi làm việc với ông Imbens.

Hai học giả lưu ý rằng hiệu quả của một "phương pháp điều trị" sẽ không giống nhau với tất cả mọi người trong một thí nghiệm tự nhiên. Ví dụ, nếu độ tuổi mà học sinh có thể bỏ học được nâng từ 16 lên 17, một số sẽ bị buộc phải học thêm một năm học; những người khác - những người luôn có ý định ở lại trường lâu hơn - sẽ không bị ảnh hưởng.

Các nhà nghiên cứu đã cùng nhau phát triển các phương pháp thống kê để làm cho kết luận từ các thí nghiệm tự nhiên trở nên hữu ích hơn. Các nhà kinh tế gọi yếu tố được sử dụng trong các thí nghiệm tự nhiên (như tháng sinh của một học sinh) như một "công cụ".

Angrist và Imbens đã giải thích những giả định cần có để việc sử dụng một công cụ có hiệu lực: ví dụ, nó chỉ ảnh hưởng đến kết quả đang được nghiên cứu (trong trường hợp này là thu nhập) thông qua ảnh hưởng của nó đối với việc "điều trị" (số năm đi học), mà không qua các kênh khác.

Bằng cách đặt ra những giả định này, các nhà nghiên cứu đã cho phép phân tích phức tạp hơn. Chẳng hạn, việc tăng thu nhập trong trường hợp trên, chỉ áp dụng cho những sinh viên đầu năm và những người buộc phải ở lại trường lâu hơn. Hơn nữa, phương pháp mà các nhà nghiên cứu mô tả đã cải thiện tính minh bạch của các phát hiện của các nhà kinh tế. Người đọc nghiên cứu có thể tự đánh giá xem một công cụ đáp ứng các giả định cần thiết tốt như thế nào và rút ra kết quả tương ứng.

Steve Pischke, Giáo sư kinh tế Trường Kinh tế London, cho biết tác động công việc của ba nhà nghiên cứu trong việc sử dụng các thí nghiệm tự nhiên rất sâu rộng. "Nó thực sự rất lớn. Mọi người đã ảnh hưởng rất nhiều và tôi nghĩ nghiên cứu được triển khai đa dạng hình thức, lan rộng sang các lĩnh vực kinh tế khác, nơi những phương pháp này hiện được sử dụng thường xuyên", ông nói.

Giống như bất kỳ phương pháp khoa học nào, cuộc cách mạng nghiên cứu thực nghiệm cũng có những điểm không hoàn hảo. Các nhà phê bình chỉ ra rằng có trường hợp nghiên cứu bất cẩn và khai thác dữ kiện để cố tình tìm kiếm các kết quả có vẻ có ý nghĩa. Các học giả còn đôi khi quá háo hức để ngoại suy những phát hiện từ một thí nghiệm tự nhiên cụ thể theo những cách có thể không được chứng minh, dựa trên sự độc đáo của hoàn cảnh.

Tuy nhiên, những đổi mới được phát triển bởi những người đi đầu trong năm nay chắc chắn đã thay đổi lĩnh vực này trở nên tốt đẹp, làm sáng tỏ những câu hỏi từng bị che khuất trong bóng tối và buộc các nhà kinh tế học đẩy lý thuyết theo hướng mô tả tốt hơn trải nghiệm trong thế giới thực. Đây thực sự là một nguyên nhân để giải Nobel vinh danh.